Những kỷ niệm dưới mái trường thân yêu

461

Trần Chí Thành

(về thầy cô giáo nhân ngày 20 tháng 11)

 

Ký ức về mái trường cấp 1-2 Đức Lĩnh 1 nằm bên bờ sông Ngàn Sâu có nước trong xanh biếc, một trong hai nhánh tạo nên dòng sông La huyền thoại trong thơ ca, văn học, âm nhạc, giờ đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời tôi.

 

Tôi bắt đầu vào học lớp Một ở trường vào năm 1972, khi chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc. Mái trường ngày đó là nơi để lại nhiều ký ức của tuổi thơ nhất đối với chúng tôi. Đó là ký ức về trường, về các thầy cô giáo, về đám bạn học cùng lớp và khác lớp thời đó nghịch nghợm và hay cà khịa, trêu chọc, gây gổ… Mặc dù sau gần 50 năm kể từ ngày đầu đến trường, tôi đã đi qua, sống và làm việc ở nhiều nơi trong và ngoài nước Việt, với nhiều trải nghiệm trong cuộc đời, nhưng những ký ức về mái trường, nơi tôi chỉ học vỏn vẹn 5 năm, vẫn còn ghi rõ trong trí nhớ. Có lẽ, chỉ trải qua nhiều buồn vui của cuộc sống, mới thấy mái trường và 5 năm tuổi học trò hồn nhiên ấy như những giá trị trong cuộc sống mà mình luôn luôn muốn gìn giữ.

 

Sau ngần ấy năm, tôi vẫn luôn nhớ rõ hình ảnh của trường cấp 1-2 Đức Lĩnh 1 hồi tôi học, mặc dù bây giờ trường đã thay đổi khá nhiều. Khuôn viên trường ngày ấy rộng rãi, được rào xung quanh bằng những cây hóp, do học sinh đóng góp và tự làm hàng rào qua các buổi lao động do trường tổ chức. Trường có hai dãy nhà vuông góc với nhau, nhà xây bằng gạch, khá cũ kỹ. Ở sân trường và vườn trường có cây bàng, cây vú sữa, cây phượng và hai hàng cây phi lao, một số cây bạch đàn. Cây bàng luôn là kỷ niệm khó quên của tuổi thơ, vì nó luôn tạo ta bóng mát cho sân trường, cho những giờ ra chơi học sinh tha hồ đùa nghịch. Cây vú sữa với lá có hai màu khác nhau ở hai mặt, là sự gợi nhớ về Miền Nam, học sinh chúng tôi luôn biết và nghĩ thế sau khi được học những bài văn về Miền Nam ruột thịt đang trong chiến tranh chống Mỹ. Cây phượng nở hoa đỏ vào mùa hè, sau này đi nhiều nơi trên đất nước, tôi thấy nhiều loại phượng (màu đỏ, vàng, tím), nhưng ký ức cây phượng hoa đỏ trong vườn trường luôn luôn nhớ rõ nhất. Hàng cây phi lao thì luôn tạo ra âm thanh vi vu trong trẻo khi có gió, thật khó quên, đặc biệt vào những ngày hè…

 

Tôi còn nhớ thời kỳ đó, khi trong kỳ học thì chúng tôi mong đến kỳ nghỉ hè, để có thể nghỉ ngơi, đi chơi, làm việc giúp gia đình. Nhưng khi kỳ nghỉ hè đến, chỉ vài tuần sau là tôi lại muốn đến trường, để được gặp thầy cô, bạn bè, cùng vui chơi đùa nghịch, có khi là cà khịa gây gổ, và mong muốn quay lại khuôn viên của trường. Có lẽ đó là sự hấp dẫn, thu hút và gần gũi của mái trường thân yêu thời kỳ đó mà chúng tôi có được (điều mà tôi không thấy ở con trai tôi trong quá trình học tập trong các trường phổ thông sau này nơi thành phố).

 

Những thầy cô giáo không thể nào quên

 

Nói đến mái trường, tất nhiên nhớ nhiều nhất vẫn là về các thầy cô giáo. Năm học vỡ lòng, cô giáo của lớp tôi là cô Hảo, nhà bên cạnh nhà tôi, chúng tôi học trong những mái lán (không phải là trường cấp 1-2 Đức Lĩnh 1) vì vẫn còn chiến tranh, bên cạnh lớp học có hầm chữ A để trú ẩn khi có máy bay ném bom. Thời kỳ đó, có lẽ chúng tôi cũng chỉ vào trú ẩn vài lần những khi có tiếng máy bay, còn lại hầm là nơi để trẻ con chơi những trò chơi như kiểu trốn tìm… Là cô giáo giỏi, cô giáo kính yêu của nhiều thế hệ học sinh, cô Hảo dạy cho chúng tôi đọc và viết, dạy chúng tôi những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, để sau này lớn lên trở thành những người tốt có ích cho xã hội. Sau này, ngay cả khi hệ giáo dục được chuyển thành 12 năm, cô vẫn dạy các lớp học sinh bé.

 

Khi tôi vào học lớp Một, cô giáo chủ nhiệm là cô Thư, nhà ở Đức Giang. Theo tôi nhớ, các thầy cô trong trường hồi đó đều viết chữ rất đẹp. Cô Thư cũng vậy. Đối với học sinh lớp Một, rèn luyện chữ viết cũng là một việc rất cần thiết. Cô dạy tất cả các môn học cho lớp, nên chúng tôi và cô giáo có nhiều thời gian cùng nhau. Mặc dù ban đầu chúng tôi cảm thấy cô Thư khá nghiêm khắc, nhưng sau đó cô đã trở thành gần gũi với tất cả học sinh của lớp bởi cô luôn yêu quý tất cả các học sinh. Trong lớp có bạn Huấn (Nguyễn Thị Bích Huấn), em gái của cô Thư, là hoa khôi của lớp tôi, và về sau này khi bạn bè lớp tôi gặp mặt thường nhắc đến bạn ấy (bây giờ bạn ấy có gia đình ở bên Nghệ An, và mới đây gia đình chuyển vào sống ở Nha Trang).

 

Khi chúng tôi bắt đầu đi học, mỗi năm Tết đến học sinh thường đến mừng tuổi thầy cô giáo chủ nhiệm của mình. Nhưng quà mừng tuổi thật đơn giản, chỉ với một vài quả cam vườn nhà. Tuy đơn giản nhưng thật chân thành, chứa đầy lòng kính trọng và tình cảm thầy trò.

 

Khoảng cuối năm học lớp Một, có một kỷ niệm khó quên là rất nhiều truyền đơn được rải khắp nơi, chúng tôi nhặt được rất nhiều và đọc, mặc dù cũng chẳng ai hiểu gì nhiều về các nội dung tuyên truyền. Nhưng có lẽ đó là thời điểm ký Hiệp định Paris, Miền Bắc không còn bị máy bay ném bom nữa, chúng tôi không còn phải sống trong nỗi sợ mỗi khi máy bay Mỹ bay qua và ném bom, phải chui vào hầm, mặc dầu số lần nghe thấy tiếng bom nổ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chắc là máy bay Mỹ bay qua khu vực chúng tôi và ném bom vào những nơi khác.

 

Thời kỳ chúng tôi đi học, sách giáo khoa rất ít. Cứ mỗi năm dịp hè, chúng tôi lại đi gặp các anh chị học năm trên để xin lại những cuốn sách giáo khoa cũ của họ. Sách thường được giữ gìn cẩn thận, có bọc bên ngoài, và những cuốn sách được chuyển từ thế hệ học sinh này sang thế hệ học sinh khác, như là sự tiếp nối nguồn tri thức ban đầu của các thế hệ học trò thời chúng tôi.

 

Lên lớp Hai, thầy Kiều chủ nhiệm lớp chúng tôi. Thầy là Hiệu trưởng của trường cấp 1 Đức Lĩnh. Có lẽ với học sinh chúng tôi hồi đó, đang học lớp Một cô Thư chủ nhiệm, lên lớp Hai thầy Kiều làm chủ nhiệm lớp, thì đều cảm thấy lo sợ hơn, vì thầy vừa là Hiệu trưởng, trông lại rất nghiêm nghị. Học sinh thường nghĩ cô giáo hiền và dễ tính hơn thầy giáo, có lẽ vì cô giáo thường tâm lý và biết quan tâm đúng cách hơn để học sinh cảm thấy gần gũi. Nhưng những cảm tưởng ban đầu đó cũng nhanh chóng mất đi, khi chúng tôi thấy thầy dạy rất hay, tận tuỵ và đặc biệt chữ viết của thầy Kiều rất đẹp (chữ nghiêng). Khi lên lớp Hai, tôi vẫn viết chữ đứng và chữ tôi viết thường to, mặc dù chữ viết khá cân đối và đẹp. Khi thầy Kiều bắt đầu chủ nhiệm lớp tôi, thầy nói tôi nên thay đổi sang viết chữ nghiêng, đẹp hơn và để viết và ghi được nhanh hơn. Và chữ viết của tôi bắt đầu thay đổi từ đó cho đến bây giờ. Về sau này, trừ những khi cần ghi nhanh các thông tin (chép bài giảng, tốc ký …), còn lại tôi viết chữ khá đẹp và được nhiều lần tham dự các cuộc thi “vở sạch chữ đẹp” hồi học cấp 1. Người ta vẫn nói nét chữ thể hiện tính cách của con người.

 

Lên lớp Ba, một lần nữa cô Thư lại làm chủ nhiệm lớp chúng tôi. Đối với các bạn trong lớp, việc này cũng đem lại niềm vui, vì cô Thư đã cùng chúng tôi năm lớp Một. Mọi việc đều cảm thấy gần gũi, dễ dàng, quen thuộc. Năm lớp Ba, vì có thành tích học tập tốt từ mấy năm trước nên cô Thư đề nghị tôi làm lớp trưởng. Tuy nhiên, do tính tình nhút nhát, không quen nói trước đám đông, trước lớp, nên sau vài lần làm nhiệm vụ lớp trưởng, cô Thư thấy tôi không làm được nên đã thay đổi. Bạn Nguyễn Khắc Thỏa được cô cử làm lớp trưởng thay tôi, và bạn ấy đã làm rất tốt nhiệm vụ này, kể cả những năm sau đó. Bạn Thỏa cũng là học sinh giỏi trong lớp (thời kỳ đó gọi là giỏi nhưng thực tế điểm tổng kết của chúng tôi chỉ là loại khá, tiên tiến thôi, không như bây giờ điểm tổng kết học sinh phổ thông đa số là giỏi).

 

Vào cuối năm chúng tôi học lớp Ba, đất nước thống nhất. Cũng thời kỳ đó, chúng tôi được tiếp xúc với đạn dược một cách dễ dàng. Những viên đạn AK màu vàng đồng thật đẹp, lũ trẻ con như chúng tôi ngắm nhìn các viên đạn nhặt được một cách say mê như ngắm nhìn vẻ đẹp của sự tinh xảo và kỹ thuật tiên tiến, và cá tút – vỏ viên đạn sau khi bắn, cũng vương vãi khắp nơi.

 

Lên lớp Bốn, cô Long chủ nhiệm lớp tôi. Hình như hồi đó cô Long mới ra trường và được phân công về dạy ở trường Đức Lĩnh 1. Cô Long có dáng người nhỏ nhắn, rất trẻ và hay cười, vui vẻ. Việc học tập của chúng tôi cũng thực sự vui vẻ, hứng thú và nghiêm túc, trong bối cảnh đất nước thống nhất. Theo tôi nhớ, khi tôi bắt đầu học lớp Bốn thì thầy Kiều thôi không làm Hiệu trưởng nữa, thầy đi dạy nơi khác (sau này tôi biết là thầy vào Thạch Hà dạy), thầy Lê Cảnh Phúc làm Hiệu trưởng trường cấp 1-2 Đức Lĩnh.

 

Cũng phải nói thầy Phúc có họ hàng bên bà Ngoại tôi. Bà Ngoại mất sớm (1951), nên tôi chỉ biết và rất gần với ông Ngoại (ông Phạm Hòa Thái). Quê ngoại tôi ở Sơn Long (Hương Sơn). Ông Ngoại là người có ảnh hưởng rất nhiều đến tôi hồi bé. Ông được học hành bài bản từ nhỏ, có bằng Diplome thời Pháp, giỏi Tiếng Pháp, ông thuộc Truyện Kiều, rất giỏi làm thơ và có năng khiếu hội họa. Có lẽ phần nào tôi cũng có di truyền từ ông Ngoại nên tôi cũng rất thích và có thể vẽ truyền thần. Theo ông kể, ông cũng đã được học võ từ nhỏ. Ông cũng rất yêu tôi, là cháu ngoại lớn nhất của ông. Ông tôi đã làm giáo viên nhiều năm ở miền Thượng Đức (các xã miền núi của Đức Thọ) nên ông là người gần gũi với rất nhiều thầy giáo của trường Đức Lĩnh 1, như thầy Kiều, thầy Ngoạn, thầy Phúc, thầy Nhở v.v. Ông nguyên là Trưởng phòng Tuyên huấn, Ty Công an Hà Tĩnh thời kỳ 1945-1951 (cho đến khi bà Ngoại tôi mất), có lẽ chỉ vì ông rất giỏi làm thơ.

 

Thầy Phúc nhiều lần nói chuyện với học sinh ở sân trường. Thầy rất quan tâm và yêu quý học sinh, các thầy cô giáo và nỗ lực để trường có kết quả học tập tốt. Những điều nhớ nhất hồi học lớp Bốn là những lần đi thi học sinh giỏi. Hình như hồi đó việc thi học sinh giỏi, thi vào các lớp chọn được tổ chức nhiều hơn hẳn (thi cụm – các xã vùng Thượng Đức, thi huyện – Đức Thọ …). Mô hình bồi dưỡng học sinh giỏi Toán được phát triển. Tôi học tốt môn Toán nên có nhiều lần thi, mỗi lần đi thi, các thầy cô luôn căn dặn cẩn thận và chu đáo, và có thầy cô đi cùng học sinh đến nơi thi. Hồi đó, việc thi học sinh giỏi chưa có phong trào luyện thi như sau này, ai học được thế nào thì cứ đi thi thôi, cũng không bị ảnh hưởng của bệnh thành tích. Cô Long chủ nhiệm lớp tôi dạy môn Toán và cũng là người gieo cho chúng tôi lòng yêu Toán, thích học môn Toán.

 

Một điều nữa tôi nhớ là khi học lớp Bốn, trường tổ chức mua về cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên, chúng tôi đăng ký mua về và đọc say mê. Trong năm học lớp Bốn, hầu như cả đất nước đầy niềm vui thống nhất, hân hoan, và ảnh của các Lãnh tụ được in ra nhiều, ảnh màu rất đẹp, từ ảnh Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đến các Lãnh tụ khác … Những học trò như chúng tôi bao giờ cũng say mê ngắm các bức ảnh màu các Lãnh tụ đất nước như ngắm nhìn tác phẩm nghệ thuật với lòng khâm phục và sự kính mến tột cùng.

 

Thuở bé, mấy anh em tôi sống ở Đức Lĩnh 1 với mẹ là chính, bố tôi (ông Trần Sự) là kỹ sư thuỷ lợi, ông làm việc nhiều nơi trong tỉnh Nghệ Tĩnh, và chỉ thỉnh thoảng mới về nhà vài hôm. Cuộc đời của bố tôi là một quá trình làm việc và cống hiến cho nghề thuỷ lợi. Trong nhận thức của bản thân tôi, thế hệ bố tôi là luôn là những tấm gương của những người đảng viên, đã sống và làm việc vì lý tưởng, vì công việc chung, mặc dù cuộc sống cũng muôn vàn khó khăn vất vả. Hè năm lớp Bốn (1976), tôi được bố cho đi chơi ở Kỳ Anh, là nơi bố tôi công tác, để tập đi xe đạp. Tôi nhớ, bố đã đèo tôi bằng xe đạp từ Đức Thọ vào Kỳ Anh, khoảng 120 km, đi từ sáng sớm và tối mới đến nơi. Sau này nghĩ lại, tôi cảm thấy thật là thương bố, vất vả đạp xe vượt qua quãng đường dài với bao nhiêu đèo dốc, tất cả vì con. Vào Kỳ Anh, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy biển, thật là lạ và ấn tượng sâu sắc. Sau gần một tháng được bố tập xe cho, với hai đầu gối có thêm các vết chầy xước, tôi cũng biết đi xe đạp, và chuyến đi là kỷ niệm chẳng bao giờ quên trong cuộc đời.

 

Lên lớp Năm, cô Linh chủ nhiệm và dạy môn Toán lớp tôi. Nhà cô Linh ở Đức Ân, cách trường khá xa, khoảng 3-4 km (đến trường bằng xe đạp). Cô Linh là giáo viên dạy Toán giỏi của trường, luôn nhiệt tình với học sinh của lớp. Cô đã hướng và giúp cho tôi giải được các bài Toán khó, từ đó có lòng say mê môn Toán hơn. Trong năm học lớp Năm, việc thi học sinh giỏi vẫn diễn ra ở các cấp (cụm, huyện), và cả việc thi vào lớp Năng khiếu Toán của huyện Đức Thọ. Tôi xuống miền xuôi (Hạ Đức – các xã khu vực đồng bằng huyện Đức Thọ) đi thi Toán, và gặp các bạn giỏi Toán của các xã vùng Hạ Đức. Cảm nhận là thấy các bạn nhanh nhẹn và giỏi, mình giống như người nhà quê đi ra tỉnh. Trong năm học đó, trường Đức Lĩnh 1 cũng có một số học sinh đi dự Đại hội “Cháu ngoan Bác Hồ” của huyện, tổ chức ở Đức Phong (bên bờ sông La). Tôi có được tham dự sự kiện này.

 

Đầu năm lớp Sáu (năm 1977) tôi được vào học lớp Năng khiếu Toán huyện Đức Thọ. Sang học kỳ 2, bạn Nguyễn Minh Tuấn cùng lớp với tôi cũng được chọn và xuống Đức Bùi học cùng với tôi. Chúng tôi đi học xa nhà phải ở trọ, vất vả và khó khăn, nhớ nhà, nhớ bố mẹ và các em, nhớ trường, nhớ bạn… Tôi bắt đầu xa gia đình và xa mái trường của tuổi thơ. Nhưng những ký ức về thầy cô giáo trường Đức Lĩnh 1 vẫn còn ghi mãi. Tôi nghĩ đó là thời kỳ của sự giáo dục nền nếp và bài bản, của sự “tôn sư trọng đạo”, tình cảm thầy trò thật đặc biệt mặc dù cuộc sống vô cùng khó khăn, thời kỳ của những giá trị nhân văn mà có lẽ xã hội hiện đại đang dần lãng quên.

 

Những niềm vui và tình cảm bạn bè

 

Nói về những ký ức thời học sinh, không thể không nói về các bạn và sự nghịch ngợm của đám học trò. Các bạn học sinh nữ thì luôn luôn ngoan ngoãn, chăm chỉ và ít nói. Nghịch ngợm và gây gổ, lắm trò chỉ là đám con trai chúng tôi mà thôi. Mà hình như trong lớp tôi, số lượng học sinh nam nhiều hơn hẳn học sinh nữ.

 

Các bạn học lớp tôi đa số sống ở khu vực Đức Lĩnh 1 gần sông. Ở gần nhà tôi có các bạn như Quý (sát nhà tôi), Triêm (đối diện nhà tôi), Lịnh, ở gần trường học có bạn Mậu, bạn Thìn, cách quả đồi có nhà bạn Tuấn và vào khu vực bên trong trại còn các bạn khác như bạn Đường, bạn Thỏa (là lớp trưởng), bạn Quang (con ông Cang)… Nói chung các bạn trong lớp tôi khá hiền lành và ít cà khịa, gây gổ. Những bạn ở gần nhà tôi cũng rất thân với tôi trong suốt những năm học cùng, và hầu như chúng tôi không bao giờ đánh nhau. Chúng tôi thường đi học cùng nhau, thỉnh thoảng có trao đổi bài, nhưng thời gian còn lại đa số chơi cùng nhau các trò chơi thời kỳ còn nhỏ như chơi khăng, đánh đáo, bắn súng phốc … Hè đến, tôi và các bạn ở gần nhà thường cùng nhau vào rừng (vô rú) đốn củi sim. Hồi đó có những cánh rừng cây to, đa số là cồng, đi qua dốc Động Mạ, sau đó dốc Cồn Bãi và vào sâu hơn có các đồi sim (Động Trửa, Động Ná …). Chúng tôi thường chặt củi ở đó, vì rừng bên ngoài thuộc quản lý của Nhà nước (kiểm lâm). Đi đốn củi trộm khu vực rừng cấm, nếu ai bị kiểm lâm bắt thì sẽ bị tịch thu dao (hồi đó chắc tất cả đều nghèo, và nếu phạt thì cũng chẳng có tiền để nộp, nên chỉ còn cách tịch thu con dao). Sau này, những năm 80 (thế kỷ trước), do tình hình kinh tế khó khăn của đất nước sau chiến tranh, nên việc phá rừng xảy ra trầm trọng hơn. Chẳng còn cánh rừng nào sót lại, tất cả đã bị đốn về để đốt lò gốm, để trang trải lo toan cho cuộc sống khó khăn. Ký ức về những cánh rừng với những cây cồng cao lớn, dày đặc vẫn luôn còn lại đẹp đẽ trong ký ức thế hệ học sinh chúng tôi. Nhưng giờ chúng không còn nữa…

 

Nói đến trường Đức Lĩnh 1, không thể không nói đến con sông Ngàn Sâu. Con sông ngày xưa nước trong xanh những ngày bình thường, và hung dữ những khi nước lũ đổ về (nước dâng cao, đục ngầu với những dòng xoáy rộng và sâu). Những ngày bình thường không mưa lũ, học sinh đi học ở trường, sau khi học xong thường ra tắm sông những khi thời tiết nóng. Mẹ vẫn cấm không cho tôi tự đi tắm sông, nhưng tôi vẫn giấu mẹ. Có những khi trời quá nóng, chúng tôi tắm nhiều lần trong ngày, và cũng chẳng thèm thay quần áo nữa. Cứ để một lúc quần đùi lại khô. Nước sông hồi đó rất trong và bãi tắm đầy cát (hiện nay vẫn có). Bây giờ mọi chuyện đã trở thành quá khứ, ngay cả một dòng sông, bởi môi trường bị ô nhiễm, dòng sông mang theo bao nhiêu rác thải và túi ni lông, chất thải gây ô nhiễm… Mấy năm trước về quê, tôi cũng có ra sông lội xuống xem có tắm được không? Dòng nước không còn trong lành như xưa nữa (nếu không nói là rất bẩn). Sự phát triển kèm theo ý thức chưa tốt về bảo vệ môi trường, quản lý kém đã làm mất đi giá trị của dòng sông tuổi thơ.

 

Mặc dù các bạn lớp tôi hiền lành nhưng các bạn lớp khác thì không phải như vậy. Trong những giờ ra chơi, học sinh vẫn chơi với nhau, và nhiều khi gây gổ đánh nhau. Chuyện đó như cơm bữa. Tôi không phải là đứa học sinh manh động, tôi chẳng cà khịa hay trêu chọc ai, nhưng không phải vì thế mà tránh được những trận vật nhau, đánh nhau. Có nhiều khi chúng tôi trêu nhau và đánh nhau trong giờ học, ở sân trường, có nhiều lúc lại trên đường đi học về. Tôi có một ông anh họ học lớp khác, tên là Phùng (con dì Tôn, em anh Du), nhà ở trong trại (cách không xa nhà tôi). Dường như anh Phùng hay trêu tôi (mặc dù là anh họ), và chúng tôi vật nhau, đánh nhau khá nhiều lần những khi đi học về. Sau mỗi bận đánh nhau, áo quần lại bẩn, và thường là mất bút máy, vì bút hay bị văng ra khỏi xắc đựng sách vở. Những lần như vậy, đi học về tôi lại bị mẹ đánh cho mấy roi, hoặc mắng khá nhiều. Sau này, anh ấy đi bộ đội phục vụ ở đảo Phú Quý, xa nhau chúng tôi mới hiểu tình cảm anh em, nhưng không may anh ấy mất vì bệnh hơn 20 năm trước.

 

Các bạn lớp của tôi đa số là hiền lành, nhưng cũng có bạn lại hay trêu và gây gổ với tôi như bạn Quang (con bác sỹ Cang). Một lần, đi học về tôi và bạn Quang đánh nhau. Vì tức quá nên tôi mạnh tay làm rách áo và đứt cúc cài áo của bạn. Đánh nhau xong về, và thật lạ bạn Quang cũng về nhà tôi, ngồi chờ ở cổng (ngõ). Khi mẹ tôi đi làm về, ra hỏi, mới biết bạn Quang không dám về nhà vì sợ mẹ bạn ấy mắng vì rách áo. Bạn ấy bắt đền tôi vì chuyện chiếc áo rách (một chút), và cái cúc bị đứt. Mẹ tôi đành vào nhà lấy kim chỉ khâu lại áo cho bạn ấy, xong thì bạn ấy mới dám về nhà. Sau này tôi mới biết là bạn ấy rất sợ mẹ và chắc là rất sợ mẹ buồn.

 

Có lẽ tôi cũng đã làm mẹ tôi buồn vì những chuyện như thế. Mẹ tôi khi đó làm công nhân xí nghiệp Sành trên địa bàn xã, công việc rất vất vả. Vì bố tôi làm việc xa nhà, ít khi về, nên mọi việc chăm lo, nuôi dạy con cái ở nhà, việc xóm làng, họ hàng hai bên nội ngoại … đều do mẹ tôi quán xuyến và gánh vác. Nhà tôi toàn anh em trai, chẳng giúp mẹ được nhiều, nên mẹ tôi lại càng vất vả hơn. Có thể nói anh em chúng tôi đã lớn lên trong sự cố gắng đầy nghị lực vượt qua khó khăn và thiếu thốn, sự hy sinh, và tình cảm yêu thương bao la của mẹ.

 

Sau này khi đã đi xa nhà nhớ lại câu chuyện trên, tôi mới hiểu hơn về cuộc sống ở quê thời kỳ đó. Thật là nghèo khó, nhưng vẫn đầy những nét đặc thù của tuổi thơ với bao nhiêu cảm thông xen lẫn tình cảm mộc mạc, chân thành. Đặc biệt về sự hy sinh và tình yêu thương của những người mẹ.

 

Câu chuyện trêu chọc và đánh nhau thời học sinh còn nhiều lắm. Thường học sinh của mỗi xã hay đánh nhau với học sinh, trẻ con xã khác, nhất là những khi có chiếu phim. Thời chúng tôi đi học, mỗi khi có phim do đội lưu động (của huyện) đến chiếu ở sân vận động sát trường học, thì đó là một ngày hội. Một mặt, đó là sự kiện văn hoá hiếm có, qua phim chúng tôi học được bao nhiêu điều hay lẽ phải, và có thể nói là học được cả lý tưởng sống. Bộ phim “Những người báo thù không bao giờ bị bắt” rất được yêu thích hồi đó. Chúng tôi nhờ đó mới phần nào biết được Chiến tranh thế giới thứ 2, biết yêu Hồng quân Liên Xô và ghét Phát xít Đức. Và nhiều bộ phim khác nữa. Mặt khác, mỗi khi chiếu phim là có chuyện chui rào, trốn vé, và chuyện đánh nhau giữa trẻ con của các xã khác nhau thường hay xảy ra. Nơi chiếu phim dĩ nhiên cũng là nơi để các anh chị lớn tuổi hẹn hò, tâm sự… Học sinh nhỏ tuổi như chúng tôi hồi đó cũng chỉ biết thế, chúng tôi chỉ mới biết nói ai đẹp và ai không đẹp thôi, và không bận tâm nhiều lắm.

 

Ngoài những chuyện của đám học trò, có nhiều ký ức khác cũng không thể quên trong thế hệ học sinh chúng tôi. Đó là cửa hàng mua bán Đức Lĩnh 1 của bà Tương, gần trường học, nơi hay bán kẹo và các thứ khác như nước mắm … Có lẽ đây là nơi hấp dẫn đối với chúng tôi, vì có bán kẹo và thực phẩm, là những thứ yêu thích nhưng thật hiếm của những năm tháng thời kỳ đó…

 

Và còn bao nhiêu câu chuyện khác của những năm tháng học ở trường…

 

Hiện nay, trường Đức Lĩnh 1 đã thay đổi nhiều, khang trang, to đẹp hơn nhiều so với 50 năm trước. Trường có những dãy nhà cao tầng, có thư viện khang trang, có các lớp học khá đầy đủ và tiện nghi. Thật cảm động là trong khuôn viên của trường vẫn giữ lại cây bàng, cây phượng…, còn hàng rào bằng cây hóp ngày xưa đã được thay thế bằng tường gạch chắc chắn. Nhưng những câu chuyện về mái trường, về thầy cô giáo, về bạn bè cùng học trong trường, trải qua những năm tháng chiến tranh rồi hoà bình, vẫn luôn là những ký ức vô cùng đẹp đẽ trong trí nhớ và sẽ không bao giờ thay đổi.

 

Sân Trường Bồng Lĩnh nơi khuôn viên Trường cấp 1 Đức Lĩnh (ảnh chụp tháng 11/2020)

 

Có lẽ trong cuộc sống hôm nay, khi những điều đẹp đẽ, tử tế và trong trẻo ngày một trở nên hiếm hoi hơn thì những ký ức đó lại càng trở nên trân quý. Cảm ơn các thầy cô giáo của chúng tôi, những người đã dạy dỗ chúng tôi với tất cả tinh thần trách nhiệm và tình cảm, luôn luôn vì học sinh thân yêu. Cảm ơn các bạn cùng học vì tất cả những kỷ niệm và thời gian học chung dưới mái trường thân yêu, Trường Đức Lĩnh 1.

 

Bài viết cho cuốn sách
“Theo dòng ký ức thầy trò vùng Thượng Đức”
của Nguyễn Đức Mậu cùng nhiều người khác