Đóng góp cho nền kinh tế châu Âu: Ngành vật lý “vượt mặt” dịch vụ bán lẻ và tài chính

86

Báo cáo “Tầm quan trọng của vật lý với các nền kinh tế châu Âu” do Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và thương mại (Centre for Economics and Business Research – Cebr) thực hiện, với sự ủy quyền của Hiệp hội Vật lý Châu Âu (EPS) cho biết, ngành vật lý đóng góp ròng (net contribution) cho nền kinh tế EU ít nhất 1,45 nghìn tỷ euro mỗi năm, nghĩa là cao gấp đôi, thậm chí gấp ba sức đóng góp của nhiều ngành như bán lẻ, xây dựng hay dịch vụ tài chính.

 

Đáng chú ý, trong giai đoạn 2011-2016, doanh thu (turnover) của các ngành công nghiệp vật lý (physic-based industries) đã trên 4,40 nghìn tỷ euro mỗi năm, trong đó cao nhất là 4,84 nghìn tỷ euro năm 2015– chiếm 12%, chiếm ưu thế hơn, so với ngành bán lẻ (4,5%) hoặc dịch vụ tài chính (5,3 %). Dữ liệu thống kê đáng ngạc nhiên trên đã xóa tan ngờ vực của nhiều người về tầm quan trọng của vật lý đối với nền kinh tế. Các ngành công nghiệp vận dụng chuyên môn về vật lý, bao gồm kỹ thuật điện, dân dụng và cơ khí, điện toán và các ngành công nghiệp khác.

 

Các ngành công nghiệp vật lý đã đóng góp 12% sản lượng kinh tế của EU.

 

Đóng góp ngày càng tăng của ngành vật lý cho nền kinh tế EU

 

Theo Báo cáo, trong giai đoạn 2011-2016, tổng giá trị gia tăng (Gross Value Added – GVA) của các ngành công nghiệp liên quan mật thiết đến vật lý đã trên mức 1,45 nghìn tỷ euro mỗi năm. Con số này chiếm 12% trong GVA tại EU, “vượt mặt” ngành xây dựng, dịch vụ tài chính và bán lẻ.

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tầm quan trọng của các ngành công nghiệp vật lý đã tăng nhẹ kể từ sau báo cáo gần nhất về tác động của vật lý do EPS thực hiện, được công bố vào năm 2013. Trong giai đoạn 2007 – 2010, nhóm ngành công nghiệp này đóng góp ít nhất 1,25 nghìn tỷ GVA mỗi năm (trừ 2009), tương đương 11% trên tổng GVA của EU.

 

Tổng giá trị gia tăng, hay GVA, là thước đo mức đóng góp của các ngành công nghiệp cụ thể cho nền kinh tế do việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Nói một cách đơn giản, GVA là giá trị của những gì được sản xuất trừ đi những gì đã tiêu thụ để sản xuất ra chúng. GVA có liên quan mật thiết đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở chỗ, GVA là thước đo sản lượng kinh tế, nhưng khác với GDP, GVA không thêm thuế hoặc khấu trừ trợ cấp (GVA + thuế trên sản phẩm – trợ cấp trên sản phẩm = GDP).

 

Đức dẫn đầu trong ngành công nghiệp vật lý (physics industries)

 

Vẫn theo Báo cáo của EPS, các ngành công nghiệp vật lý tạo ra 16% doanh thu kinh doanh tại EU, tương đương khoảng 4,4 nghìn tỷ euro mỗi năm, tăng 1 nghìn tỷ euro kể từ năm 2010.

 

Trong số 28 quốc gia EU, 4 quốc gia Đức, Anh, Pháp và Ý đã tạo ra 2/3 doanh thu trên, trong đó Đức là quốc gia có phần doanh thu lớn nhất từ các ngành công nghiệp vật lý – 29%. Đức cũng là nơi các ngành công nghiệp dựa trên vật lý chiếm hơn 53,4% thị trường xuất khẩu. Xếp sau Đức là Vương quốc Anh với 14,2%, tiếp theo là Pháp 12,9% và Ý 10,4%. Tính trung bình giai đoạn 2011-2016, hàng hóa từ các ngành công nghiệp này chiếm 44% tổng sản lượng xuất khẩu của EU28, và một lần nữa, Đức chiếm ưu thế với 53%.

 

Trái lại, doanh thu dựa trên ngành vật lý mà các nước Đông Âu tạo ra có phần thấp hơn nhiều so với Tây Âu – khu vực kinh tế dựa phần lớn vào sức đóng góp của các lĩnh vực công nghiệp vật lý. Bà Rudolf bày tỏ hy vọng sẽ thấy phía đông và nam châu Âu đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế trong 10 năm tới.

 

Ngành vật lý tạo công việc cho 17,8 triệu người tại châu Âu

 

Vào năm 2016, các ngành công nghiệp vật lý sử dụng 17,8 triệu lao động, chiếm hơn 12%  các ngành nghề. Chiểu theo GVA, trung bình mỗi nhân viên tạo ra 90.800 € mỗi năm cho nền kinh tế, nghĩa là lực lượng lao động của các ngành dựa trên vật lý có năng suất cao hơn so với ngành sản xuất khi công nhân trung bình sản xuất 60.600 €.

 

Theo Rudolf, ngay từ tên gọi “nhà vật lý” đã thực sự là một “thương hiệu” rất khác biệt, cho thấy người sở hữu tên gọi ấy phải có kỹ năng cao và hiểu biết chuyên sâu để có thể giải quyết được những vấn đề lớn về khoa học và công nghệ.

 

Tính trung bình giai đoạn 2011-2016, vật lý tham gia đào tạo nhân công lớn nhất trong các ngành chế biến, chế tạo (48.9%), các hoạt động khoa học, kỹ thuật và công nghệ (20.6%), công nghệ thông tin và truyền thông (9.6%). Những ngành vật lý có liên quan khác là vận tải, năng lượng, vật liệu y tế…

 

Mặt khác, 17 triệu công việc mà vật lý góp phần đem lại đều là những công việc có kỹ năng cao và tạo ra hiệu ứng tốt trong cả chuỗi các ngành trong nền kinh tế. Các tác giả đã tìm ra, cứ 1 việc làm trong ngành công nghiệp liên quan đến vật lý được tạo ra thì nó lại tác động đến 1,54 việc làm khác. Nếu tính theo góc độ này, các ngành công nghiệp liên quan đến vật lý trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế châu Âu.

 

Ngoài ra, Báo cáo cũng lập luận rằng, những hoạt động của ngành công nghiệp vật lý thúc đẩy các ngành khác tạo ra nhiều của cải hơn, chẳng hạn như khi các công ty này thu mua sản phẩm từ doanh nghiệp trong các ngành khác. Theo nhóm tác giả của Báo cáo, như vậy có nghĩa là mỗi € 1 GVA ngành vật lý tạo ra thêm € 2,64 cho phần còn lại của nền kinh tế.

 

Các nhà hoạch định chính sách cần hiểu thêm về tác động khoa học

 

Tại sự kiện ra mắt Báo cáo về Tầm quan trọng của ngành Vật lý trong nền kinh tế châu Âu (“The Importance of Physics in the Economies of Europe”) tại Brussels, Vương quốc Bỉ vào ngày 15/10/2019, chủ tịch EPS Petra Rudolf cho biết, tác động của ngành vật lý cần phải được biết đến rộng rãi hơn nữa, đặc biệt là đối với các nhà hoạch định chính sách – những người thường trực ý muốn phải có bằng chứng về lợi ích trong ngắn hạn, trong khi về bản chất, nghiên cứu khoa học thường đạt được những thành quả quan trọng nhất trong dài hạn. Chẳng hạn như Einstein, khi nghiên cứu về phát xạ kích thích, chắc chắn ông không nghĩ đến việc laser được sử dụng để phẫu thuật mắt sau này.

Bà nói thêm, vào năm 1968, màn hình LCD đầu tiên được chế tạo trong phòng thí nghiệm, và công nghệ này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất tivi. Tuy nhiên, những người đầu tiên phát triển công nghệ này không bao giờ hình dung được toàn bộ phạm vi mà công nghệ ấy có thể vươn tới. Hiện tại, các ngành công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chuyên môn vật lý phải kể đến như khai thác dầu khí, xử lý nhiên liệu hạt nhân và các ngành sản xuất khác như sợi quang học, thiết bị chiếu sáng, máy móc văn phòng, xe hơi, tàu thủy và vũ khí.

 

Được thành lập vào năm 1968, Hiệp hội các nhà vật lý EPS có độ bao phủ trên khắp 42 quốc gia châu Âu và có trụ sở tại Mulhouse, Pháp. Nghiên cứu của EPS đặc biệt hữu ích khi công bố trong bối cảnh các nước EU tranh luận về vấn đề nên đầu tư bao nhiêu cho chương trình R&D tiếp theo của EU mang tên Horizon Europe. Chương trình này sẽ bơm hàng tỷ đô la vào nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Ủy ban châu Âu muốn chi 94,1 tỷ euro cho Horizon Europe, còn Nghị viện châu Âu muốn 120 tỷ euro, nhưng một số quốc gia thành viên, đặc biệt là Đức, cho rằng đề xuất của Ủy ban đối với toàn bộ ngân sách EU là con số quá lớn – nghĩa là mức chi cho chương trình Horizon Europe có thể sẽ nhỏ hơn nhiều so với những gì mà các nhà khoa học đã hy vọng.

 

Với tình hình ngân sách cùng các nguồn lực có nguy cơ eo hẹp dần, các cử tri tại nhiều khu vực bầu cử trong giới R & D của châu Âu đua nhau tranh luận, lý giải nhằm nêu bật giá trị các lĩnh vực hoạt động của họ. Về Horizon Europe, Ủy ban châu Âu không dự kiến chi tiêu cho khoa học, mà đề xuất rót 52% ngân sách để giải quyết các thách thức về chính sách đang thu hút sự quan tâm của công chúng như biến đổi khí hậu, điện toán lượng tử và cạnh tranh sản xuất… – những chủ đề này đều liên quan đến vật lý.

 

Biên dịch: Phạm Thị Thu Trang – Ban KH&QLKH

 

Theo báo cáo, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup) liên quan đến vật lý chiếm 10%  trong tổng số các startup được tạo ra, nghĩa là cứ 100 startup thì có 11 liên quan đến vật lý. Vào năm 2015, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 10,4%, có thể là do những nguyên nhân như kinh phí đầu tư ban đầu lớn hơn. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhận thấy, các startup liên quan đến vật lý lại hoạt động tương đối ổn định và có khả năng bám trụ cao hơn: trong cả giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ thành lập đạt 10,4 đến 10,8% nhưng tỷ lệ sống sót là 8,8 đến 8,9%.

 

Để giải thích thêm về yếu tố khiến các startup vật lý tồn tại, bà nêu ví dụ về Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) – nơi vận dụng các sáng kiến của EU, triển khai các khóa đào tạo về kỹ năng kinh doanh.

 

Anais Rassat, thuộc văn phòng chuyển giao kiến thức CERN làm rõ, CERN luôn khuyến khích nhân viên phát triển ý tưởng của riêng họ, trong đó bao gồm tài trợ phát triển nguyên mẫu và cho họ thời gian để thành lập công ty riêng.

 

Rassat chia sẻ “chúng tôi có các buổi đào tạo, giới thiệu về các công cụ chuyển giao kiến thức, cũng như cơ sở dữ liệu thông tin về bằng sáng chế. Điều này rất quan trọng đối với chúng tôi để khởi tạo liên kết với các nhà nghiên cứu vì họ đến CERN để làm nghiên cứu cơ bản, và có thể họ không nghĩ đến các ứng dụng bên ngoài”.