Công suất điện hạt nhân toàn cầu dự kiến đạt 536GW vào năm 2030

183

Công nghệ hạt nhân là nguồn phát điện phụ tải cơ bản chủ yếu và chiếm 10,5% sản lượng điện toàn cầu vào năm 2017 – theo số liệu của GlobalData, một công ty dữ liệu và phân tích hàng đầu trên thế giới.

 

Ngành điện hạt nhân đang phát triển ở nhiều nước do nhu cầu về điện đang gia tăng. Theo báo cáo mới nhất của công ty GlobalData ‘Báo cáo chuyên đề điện hạt nhân’ cho thấy khoảng 31 quốc gia trên thế giới hiện đang vận hành lò phản ứng hạt nhân để sản xuất điện. Các nước có công suất điện hạt nhân đáng kể là Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Canada và Ukraina, với công suất lắp đặt hơn 10 GW (GW). Đức, Anh, Thụy Điển, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Bỉ và Đài Loan mỗi nước sản xuất từ 5 đến 10 GW điện hạt nhân.

 

Mỹ và Pháp là những thị trường năng lượng hạt nhân hàng đầu, chiếm tỷ lệ lần lượt là khoảng 30,2% và 19,0%  trong tổng công suất lắp đặt tích lũy điện hạt nhân của thế giới

 

Công suất tích lũy điện hạt nhân toàn cầu trong năm 2010 là 376GW, trong đó chỉ riêng nước Mỹ đã chiếm hơn 100GW. Trong năm 2011, công suất điện hạt nhân bị giảm nhẹ do hậu quả của thảm họa Fukushima khi một số lò phản ứng ở Nhật Bản bị đóng cửa vĩnh viễn. Một số lò phản ứng ở Đức cũng bị đóng cửa trong cùng năm với những bước đi ban đầu của nước này nhằm loại bỏ năng lượng hạt nhân. Trong giai đoạn 2012–2017, tổng công suất lắp đặt tích lũy vẫn tăng khoảng 18GW -392 GW bất chấp việc một số nhà máy điện hạt nhân đã bị đóng cửa trên toàn thế giới, nhờ có thêm phần công suất điện hạt nhân bổ sung mới tới hơn 30GW từ Trung Quốc.

 

Hình 1 dưới đây cung cấp thông tin về công suất lắp đặt điện hạt nhân toàn cầu và tốc độ tăng trưởng theo năm (YoY) trong giai đoạn 2010–2030. Dự kiến ​​công suất lắp đặt tích lũy của điện hạt nhân sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm [1] (compound annual growth rate -CAGR) là 2,4% trong giai đoạn 2017-2030 để đạt tới con số 536GW vào năm 2030. Số lượng các nhà máy điện hạt nhân dự kiến cũng sẽ ​​tăng lên trong khoảng thời  gian dự báo nói trên.

Hình1: Thị trường điện hạt nhân: Công suất lắp đặt (GW) giai đoạn 2010-2030

 

Theo GlobalData, 10 quốc gia đứng đầu về sản xuất điện hạt nhân chiếm khoảng 84% tổng công suất lắp đặt tích lũy của  điện hạt nhân trên toàn thế giới năm 2017. Mỹ và Pháp là hai thị trường điện hạt nhân hàng đầu, chiếm tỷ lệ tương ứng khoảng 30,2% và 19,0% tổng công suất lắp đặt tích lũy của điện hạt nhân trên thế giới.

Hình 2: Thị trường điện hạt nhân:  Công suất lắp đặt tích lũy (GW) và thị phần của 10 nước sản xuất điện hạt nhân hàng đầu trên thế giới năm 2017

 

Một số nước hiện sản xuất ít hoặc không sản xuất điện hạt nhân xem công nghệ hạt nhân như một lựa chọn khả thi để tăng cường sự độc lập về năng lượng và tính đa dạng về các nguồn năng lượng của họ. Thổ Nhĩ Kỳ, Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), Ai Cập, Saudi Arabia, Việt Nam và Ba Lan hiện không sản xuất điện hạt nhân, nhưng trong tương lai, những quốc gia này có khả năng góp mặt trên thị trường sản xuất điện hạt nhân vào những giai đoạn khác nhau.

 

Nhiều giao dịch M & A (Sáp nhập và Mua lai) lớn [2] đã diễn ra trong giai đoạn 2015-2018. Đáng chú ý là sự kiện Brookfield Business Partners, một công ty chuyên về công nghiệp và dịch vụ kinh doanh, đã hoàn thành việc mua lại Westinghouse, một công ty điện hạt nhân hàng đầu và là công ty con của Toshiba. Sự hoàn tất thương vụ mua lại này là một cột mốc quan trọng đối với Westinghouse khi công ty này có thể “ngóc dậy” sau khi tuyên bố phá sản theo Chương 11[3] của luật phá sản của Mỹ.

 

Vào tháng 1 năm 2018, hai công ty điện hạt nhân lớn của Trung Quốc – Tổng công ty Xây dựng và Kỹ thuật hạt nhân Trung Quốc (CNEC), một nhà cung cấp dịch vụ xây dựng và kỹ thuật hạt nhân, và Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC), một công ty sở hữu nhà nước về công nghệ hạt nhân – đã được sáp nhập lại trong bối cảnh nước này đang tiếp tục củng cố các doanh nghiệp nhà nước nhằm làm giảm bớt tình trạng ế ẩm (overcapacity) và nâng cao hiệu quả hoạt động.

 

Biên dịch và chú giải: Nguyễn Thị Yên Ninh, Ban HTQT, Viện NLNTVN

 

Giải thích từ ngữ:

  1. Compound Annual Growth Rate (CAGR): Tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm là một thước đo hữu ích để đánh giá sự tăng trưởng bền vững mà không có sự thăng trầm của biến động ngắn hạn. Hay nói cách khác đó là một chỉ số để đánh giá tỷ lệ hoàn vốn khi thực hiện viêc đầu tư nào đó trong khoảng thời gian nhất định. CSGR được tính bằng công thức: CAGR = (EV/BV) 1 / n – 1 (trong đó EV = Giá trị kết thúc của đầu tư, BV = Giá trị bắt đầu của đầu tư, n = Số kỳ (ngày, tháng, năm, vv)).
  2. M&A là tên viết tắt của cụm từ Mergers (Sáp nhập) và Acquisitions (Mua lại). M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua hình thức sáp nhập hoặc mua lại giữa hai hay nhiều doanh nghiệp để sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó.
  3. Chapter 11 bankruptcy: là Chương 11 trong luật phá sản của Mỹ cho phép một doanh nghiệp tuyên bố phá sản để tái cấu trúc. Tuyên bố phá sản theo chương 11 thì doanh nghiệp tạm thời được bảo vệ khỏi chủ nợ để gắng gượng làm ăn trả nợ. Khác với Chương 7 của luật này cho phép doanh nghiệp tuyên bố phá sản để giải thể doanh nghiệp.