40 năm sau tai nạn ở Three Mile Island, các nhà máy điện hạt nhân vẫn nằm trong số những cơ sở an toàn nhất của Hoa Kỳ

175

Ngày 28 tháng 3 đánh dấu 40 năm kể từ vụ tai nạn lò phản ứng hạt nhân tại tổ máy số 2 nhà máy điện hạt nhân Three Mile  Island (TMI). Tai nạn này là do sự kết hợp của sự cố thiết bị và sự bất lực của các nhà vận hành nhà máy trong việc xác định đúng điều kiện của lò phản ứng tại một số thời điểm nhất định trong sự kiện này.

 

Vụ tai nạn TMI là một “thử thách” về văn hóa an toàn cho nước Mỹ và là một bước ngoặt cho ngành công nghiệp. Và trong khi không có báo cáo về thương tích hoặc ảnh hưởng có hại về sức khỏe con người, ngành công nghiệp của nước Mỹ đã rút ra được những bài học quan trọng kể từ ngày đó và đã không ngừng nâng cao sự an toàn của các nhà máy qua từng năm vận hành.

 

Nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island (Ảnh: Techknowbits.com)

 

Do đó, “sự an toàn là quan trọng tối cao đối với mọi nhà máy điện hạt nhân của Hoa Kỳ” (nguyên văn: safety is in the DNA of every U.S. nuclear plant). Căn cứ vào nhiều tiêu chí  đánh giá khác nhau – tỷ lệ mắc lỗi do con người, thương tích của công nhân hoặc lỗi thiết bị, số lần dừng hoạt động ngoài dự kiến và mức độ phơi nhiễm nghề nghiệp – việc vận hành của các nhà máy điện hạt nhân được coi là rất trơn tru, ổn định và thông minh (smooth, stable and smart).

 

Nhà máy điện hạt nhân đang theo đuổi mục tiêu xuất sắc

 

Tất cả các công ty vận hành lò phản ứng năng lượng đã áp dụng mô hình an toàn chung và thành lập một tổ chức an toàn độc lập, Viện Vận hành Nhà máy Điện hạt nhân (Institute of Nuclear Power Operations), để thực hiện kiểm định chuyên sâu tất cả các lò phản ứng, bao gồm kiểm định ngang hàng, trong đó các nhà vận hành các nhà máy tương tự sẽ đi kiểm định từ địa điểm này sang địa điểm khác để kiểm tra rất khắt khe lẫn nhau về mọi hoạt động, những thành công và thách thức của từng nhà máy.

 

Ngoài ra, giám đốc điều hành của các nhà máy sẽ thông báo tóm tắt cho nhau về các trục trặc,  những lỗi do con người gây ra và các sự việc khác xảy ra tại nhà máy của họ, đồng thời xem xét nghiêm ngặt các phương pháp vận hành của nhau. Các nhà máy vẫn tuân thủ một bộ quy định nghiêm ngặt của Ủy ban An toàn hạt nhân Hoa Kỳ (U.S. Nuclear Regulatory Commission – NRC), nhưng các mối tương tác ngang hàng thì toàn diện hơn và nâng cao mức độ an toàn và xuất sắc trong vận hành, vượt xa những gì chính phủ yêu cầu.

 

Trên thực tế, Viện Nghiên cứu Năng lượng điện (Electric Power Research Institute– EPRI) đã phát hiện ra rằng những rủi ro về an toàn và về sức khỏe cộng đồng mà các nhà máy điện hạt nhân có thể gây ra thấp hơn rất nhiều so với người ta vẫn quan niệm trước đây. Các nghiên cứu trong những năm 1980 và 1990 cho thấy biên độ an toàn của các nhà máy điện hạt nhân thời đó còn tương đối nhỏ, trong khi đó, một nghiên cứu gần đây của EPRI chứng tỏ rằng các nhà máy điện hạt nhân hiện nay ở Mỹ an toàn hơn gấp gần 100 lần so với các mục tiêu an toàn của Ủy ban An toàn hạt nhân Hoa Kỳ đề ra.

 

Các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động tốt

 

Các chuyên gia được đào tạo chuyên sâu hiện đang điều hành 98 nhà máy điện hạt nhân của Mỹ. Với sự giám sát của NRC và các lớp bảo vệ an toàn, nhà máy điện hạt nhân hiện đang là một trong những môi trường công nghiệp an toàn nhất ở Hoa Kỳ. Công nhân nhà máy được đảm bảo có trình độ cao: Người vận hành lò phản ứng phải có giấy phép liên bang, đòi hỏi phải được đào tạo mở rộng để được cấp phép và thường thì nhân viên vận hành cứ mỗi 5 tuần phải dành 1 tuần cho việc huấn luyện, bồi dưỡng.

 

Sau vụ tai nạn tại Three Mile Island 2, ngành công nghiệp hạt nhân đã thành lập Học viện Đào tạo Hạt nhân quốc gia để thúc đẩy mức độ xuất sắc và sự nhất quán cao nhất về chương trình đào tạo trong toàn ngành. Cứ bốn năm, để duy trì được sự công nhận của Học viện, các nhà máy điện hạt nhân phải chứng tỏ được những tiêu chuẩn cao trong các chương trình đào tạo của mình.

 

Các nhà máy cũng có các thiết bị mô phỏng đào tạo, là các bản sao chính xác của các phòng điều khiển của nhà máy điện hạt nhân, nhưng được kết nối với máy tính thay vì kết nối với lò phản ứng. Điều đó cho phép các nhân viên vận hành thực hành các thao tác ứng phó với các tai nạn giả định, những việc không thể tiến hành trên một lò phản ứng thực, tương tự như các phi công máy bay phản lực thực hành ứng phó với các lỗi động cơ hoặc các trục trặc thiết bị trên một chiếc máy bay mô phỏng.

 

Các nhà máy điện hạt nhân không ngừng được cải tiến kể từ năm 1979

 

Sự đổi mới là động lực thúc đẩy ngành công nghiệp hạt nhân phát triển. Tuy các nhà máy điện hạt nhân có thể trông giống nhau ở bề ngoài, nhưng thực ra trong suốt quá trình hoạt động, chúng liên tục được nâng cấp với công nghệ mới nhất và được giám sát để có được hiệu quả vận hành tối ưu.

 

Vào thời điểm các cơ sở hạt nhân xin gia hạn giấy phép vận hành với Ủy ban An toàn hạt nhân NRC sau 40 năm hoạt động, các cơ sở này phải được nâng cấp liên tục – nhờ những cải tiến đối với tuabin, máy bơm, thiết bị và các bộ phận khác.

 

Thông qua việc nâng cấp thiết bị, nhiều nhà máy đã có thể tăng sản lượng phát điện của mình. Những cải tiến này, cùng với những giải pháp cải thiện hiệu quả khác, đã giúp các nhà máy dành được nhiều thời gian hơn để sản xuất điện năng. Hệ số công suất trung bình cho tất cả các nhà máy hạt nhân trong năm 2018 là 92,3%, điều đó có nghĩa là các nhà máy hầu như luôn hoạt động và liên tục sản xuất điện. Ngược lại, vào những năm 1970, các lò phản ứng trung bình hoạt động dưới 60% số giờ trong một năm.

 

Ngành công nghiệp hạt nhân đã không ngừng cải thiện, đồng thời tiếp tục phát triển công nghệ tiên tiến như công nghệ sản xuất loại nhiên liệu có khả năng chịu được tai nạn (accident-tolerant fuels), nhờ vậy giúp tăng thêm hiệu suất vận hành của nhà máy, nâng cao an toàn và cắt giảm chi phí.

 

Các nhà máy hạt nhân đều được chuẩn bị cho những tình huống xấu nhất

 

Các nhân viên vận hành tại mỗi nhà máy hạt nhân chuẩn bị các kế hoạch ứng phó sự cố chi tiết với một mục tiêu khắc sâu trong tâm trí: bảo vệ cộng đồng và nhân viên của họ.

 

Các kế hoạch này được đặt ra bởi NRC và Cơ quan Quản lý khẩn cấp Liên bang – Federal Emergency Management Agency. Công nhân nhà máy hàng tháng đều tiến hành huấn luyện và diễn tập ứng phó sự cố, và cứ sau hai năm họ lại kiểm tra kế hoạch của mình cùng với các cơ quan quản lý địa phương và NRC.

 

Các kế hoạch ứng phó khẩn cấp cũng được cập nhật dựa trên các vấn đề mới được đặt ra. Sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngành công nghiệp hạt nhân đã đánh giá lại các kế hoạch của mình để bao quát hàng loạt các sự kiện không lường trước được có thể xảy ra. Hơn thế nữa, sau vụ tai nạn Fukushima năm 2011, ngành công nghiệp đã lắp đặt thêm thiết bị an toàn dự phòng tại các nhà máy hạt nhân và các kho chứa khu vực. Chiến lược FLEX (Chiến lược ứng phó sự cố hạt nhân khẩn cấp do Viện Năng lượng Hạt nhân Hoa Kỳ (NEI) đưa ra 5 năm sau tai nạn Fukushima, Chiến lược này chú trọng việc đặt thêm một lớp bảo vệ an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân- người dịch), đã chế tạo khoảng 1.500 thiết bị bổ sung, từ vòi phun đến máy phát điện, luôn sẵn sàng cho tất cả các nhà máy hạt nhân trong trường hợp khẩn cấp.

 

Các nhà máy điện hạt nhân không chỉ cung cấp hơn 55 phần trăm lượng điện năng “sạch” không phát thải khí carbon ở Hoa Kỳ mà còn là một trong những cơ sở công nghiệp an toàn và an ninh nhất trong cả nước. Và 40 năm sau vụ tai nạn tại nhà máy Three Mile Island, năng lượng hạt nhân vẫn là hình thức phát điện phụ tải cơ bản an toàn nhất và sạch nhất.

 

Biên dịch và chú giải: Nguyễn Thị Yên Ninh