Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc về các nhà máy điện hạt nhân nổi tại biển Đông

887

Những nhà máy như vậy sẽ tiềm tàng thảm họa nghiêm trọng, đe dọa sự an toàn của Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.

 

Nhà máy điện hạt nhân nổi, ‘Akademik Lomonosov’, được kéo ra khỏi xưởng đóng tàu St. Petersburg và hướng ra biển (ngày 28 tháng 4 năm 2018).

 

Vào ngày 28 tháng 4, Tập đoàn hạt nhân quốc gia Nga Rosatom ra thông báo về việc nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên của tập đoàn là Akademik Lomonosov, sẽ di chuyển từ Saint Petersburg, nơi con tàu này bắt đầu được đóng từ năm 2009, đến Pevek thuộc huyện vùng Cực Chaunsky. Tại thị xã cực Bắc này của nước Nga, Akademik Lomonosov sẽ được đấu nối với lưới điện và cung cấp điện cho người dân địa phương thông qua hai lò phản ứng hạt nhân loại KLT-40S có công suất 35 MW điện. Trong khi Rosatom ca ngợi đây như một thành tựu lớn của ngành công nghiệp hạt nhân Nga và một sản phẩm tiềm năng cho thị trường xuất khẩu, thì việc triển khai Akademik Lomonosov cũng làm dấy lên mối lo ngại từ phía các nhà hoạt động môi trường vốn tỏ ý lo ngại trước những rủi ro tiềm tàng về mặt an toàn vì nhà máy sẽ được vận hành trong môi trường khắc nghiệt của Bắc Băng Dương, và vì các tính năng bảo vệ của nó bị hạn chế so với các nhà máy điện hạt nhân hiện đại trên đất liền. Mặc dù việc các tổ chức môi trường như Hoà bình xanh đặt biệt danh cho con tàu này là “Chernobyl nổi” hoặc “Titanic hạt nhân” có thể là hơi vội vàng nếu chúng ta tính tay việc nước Nga đã có bề dày kinh nghiệm nhiều thập kỷ trong việc vận hành các tàu phá băng hạt nhân, thì các nước láng giềng của Nga và các tổ chức quốc tế như Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA vẫn sẽ phải giám sát chặt chẽ hoạt động của loại nhà máy hạt nhân mới này để bảo vệ Akademik Lomonosov khỏi bất kỳ sự cố an toàn hoặc an ninh nào vốn có thể gây ra các hậu quả xuyên biên giới.

 

Bên cạnh đó, việc triển khai Akademik Lomonosov cũng là một lời nhắc nhở cho các nước Đông Nam Á rằng Trung Quốc cũng đã lên kế hoạch xây dựng và vận hành các dự án điện hạt nhân nổi ở Biển Đông. Năm 2016, hai nhà cung cấp hạt nhân lớn của Trung Quốc là Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) và Tổng công ty điện hạt nhân Trung Quốc (CGN) đã công bố kế hoạch hợp tác phát triển nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên của Trung Quốc để triển khai tại Biển Đông, theo đó lò đầu tiên trong số 20 lò phản ứng dạng này sẽ được hoàn thành theo kế hoạch vào năm 2020. Các lò phản ứng này sẽ không chỉ cung cấp điện hoặc nước khử muối cần thiết cho các đảo do Trung Quốc kiểm soát mà còn hỗ trợ việc khai thác dầu khí của Tổng công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNOOC) – chủ sở hữu Dàn khoan dầu Hải Dương 981 (HYSY981) vốn là nguyên nhân cho những tranh cãi chính trị lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2014 khi nó được kéo đến hoạt động tại khu vực biển tranh chấp giữa hai nước. Gần đây hơn, việc cơ quan ngôn luận chính thống của Trung Quốc là tờ Nhân dân Nhật báo xác nhận về các kế hoạch trên đã gây ra sự quan ngại rằng các dự án điện hạt nhân nổi này, một khi được đưa ra Biển Đông, sẽ có thể giúp Trung Quốc đẩy nhanh việc lấp biển và xây dựng đảo nhân tạo tại khu vực tranh chấp.

 

Nếu tạm thời bỏ sang một bên khía cạnh pháp lý và quân sự của việc triển khai các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc tại Biển Đông – nội dung vốn đã được các tài liệu khác đề cập và xứng đáng được bàn kỹ trong một bài viết riêng, thì bài viết này tập trung vào mặt khác của vấn đề – rủi ro về an toàn đối với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á nằm quanh Biển Đông từ việc triển khai các nhà máy điện hạt nhân nổi tại vùng biển tranh chấp.

 

Nguy cơ an toàn vận hành

 

Trước hết, việc đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành các nhà máy điện hạt nhân nổi dạng này là hết sức khó khăn vì đây là công nghệ mới, lại được vận hành trong điều kiện khắc nghiệt của biển Đông, với nhiều hạn chế cố hữu về mặt an toàn như thùng lò nhỏ, và xác suất xảy ra sự cố cao do nguy cơ lật hoặc va chạm. Về mặt này, nhiều chuyên gia đã tỏ ý quan ngại về năng lực của cơ quan quản lý an toàn hạt nhân Trung Quốc trong việc theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của chương trình điện hạt nhân Trung Quốc về cả số lượng và tính đa dạng về công nghệ. Trung Quốc hiện có 39 nhà máy điện hạt nhân hoạt động trên đất liền sử dụng ba loại công nghệ khác nhau (áp lực nước nhẹ, áp lực nước nặng và tái sinh nhanh) từ nhiều nhà cung cấp trong và ngoài nước, với 18 lò phản ứng khác đang được xây dựng.

 

Năm 2011, Uỷ ban Nghiên cứu Quốc vụ viện Trung Quốc đã đưa ra báo cáo cho thấy Cơ quan An toàn Hạt nhân Quốc gia (NNSA) – cơ quan pháp quy hạt nhân chính của Trung Quốc, không có đủ nhân viên nếu so với các cơ quan tương tự ở các quốc gia có nền công nghiệp điện hạt nhân phát triển khác, và nhìn chung, lương của các chuyên viên tại cơ quan pháp quy hạt nhân Trung Quốc thấp hơn so với các đối tác của họ làm việc cho ngành công nghiệp hạt nhân. Trong khi đó, Trung Quốc lại có kế hoạch đầy tham vọng nhằm xây dựng các loại lò phản ứng tiên tiến mới, bao gồm cả các lò phản ứng kiểu mô-đun nhỏ được sử dụng cho các nền tảng hạt nhân nổi và xuất khẩu sang các nước láng giềng. Do đó, NNSA và các tổ chức liên quan sẽ phải đối mặt với thách thức đáng kể trong việc đảm bảo an toàn cho đội tàu hạt nhân nổi của Trung Quốc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và rủi ro va chạm từ giao thông hàng hải vốn có mật độ lớn tại Biển Đông, đặc biệt là khi, khác với Nga, Trung Quốc chưa bao giờ chế tạo một chiếc tàu phá băng hạt nhân và do đó không có đủ kinh nghiệm trong việc xây dựng, vận hành hoặc quản lý an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân nổi.

 

Cựu Tổng giám đốc của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) Mohamed ElBaradei đã từng nhận xét: “Tai nạn hạt nhân ở một địa điểm cũng là tai nạn ở khắp mọi nơi.” Bất kỳ sự cố nào xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc – dù là phóng xạ rò rỉ ra biển hay thùng lò hư hại do bão nhiệt đới hoặc va chạm với tàu bè – sẽ gây ra tác động về kinh tế và tâm lý nghiêm trọng không chỉ cho các nước trong khu vực như Việt Nam, Philippines hay Singapore mà còn cả các nước như Nhật Bản hay Hàn Quốc, những quốc gia đang phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung dầu và khí đốt thông qua các tuyến vận tải biển trên biển Đông.

 

Rủi ro trong hợp tác quốc tế về an toàn hạt nhân

 

Kế hoạch của Trung Quốc về vận hành các nhà máy hạt nhân nổi ở Biển Đông cũng sẽ tạo ra các vấn đề trong hợp tác an toàn hạt nhân với các quốc gia Đông Nam Á giáp biển Đông. Thông thường, để chứng minh cho cộng đồng quốc tế về sự an toàn của chương trình điện hạt nhân, một quốc gia cần thông qua Công ước An toàn hạt nhân và tham gia vào quá trình rà soát Công ước bằng cách gửi báo cáo quốc gia cho cuộc họp đánh giá vốn IAEA tổ chức ba năm một lần. Sau khi tham gia Công ước này vào năm 1996, Trung Quốc thường xuyên đệ trình báo cáo quốc gia về an toàn hạt nhân tại các cuộc họp tổng kết, trong đó gần đây họ cũng đưa vào bản đồ có chứa lãnh thổ tranh chấp trên biển Đông mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Vì các báo cáo này thường được công khai, các bên thứ ba như các nước Đông Nam Á có thể xác minh liệu Trung Quốc có thực hiện các biện pháp an toàn cần thiết cho các cơ sở hạt nhân dân sự của mình hay không.

 

Tuy nhiên, họ sẽ không thể kiểm tra về chất lượng giám sát an toàn của Trung Quốc đối với các nhà máy điện hạt nhân nổi trong tương lai, vì Công ước An toàn hạt nhân chỉ áp dụng cho các nhà máy điện hạt nhân trên đất liền. Mặc dù các nước xung quanh biển Đông vẫn có thể yêu cầu Trung Quốc cung cấp thông tin trong trường hợp xảy ra sự cố với các nhà máy điện hạt nhân nổi theo Công ước về Thông báo sớm tai nạn hạt nhân – vốn bao gồm tất cả các loại lò phản ứng hạt nhân và đã được phê chuẩn bởi tất cả các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, nhưng đối với các quốc gia có thể bị ảnh hưởng, như thế rõ ràng là quá muộn để thực hiện bất kỳ kế hoạch ứng phó khẩn cấp hoặc giảm nhẹ tổn thất nào một khi xảy ra tai nạn.

 

Người ta có thể lập luận rằng vấn đề thông tin liên lạc về an toàn hạt nhân dạng này có thể được cải thiện thông qua việc đàm phán kí kết các thỏa thuận song phương hoặc đa phương riêng biệt giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Một ví dụ của các thoả thuận dạng này là việc tháng 11 năm 2017 Trung Quốc và Việt Nam ký biên bản ghi nhớ về hợp tác an toàn hạt nhân trong đó tập trung vào việc trao đổi thông tin, chuẩn bị và ứng phó sự cố khẩn cấp. Biên bản ghi nhớ này được ký kết không lâu sau khi Việt Nam đề nghị Trung Quốc cải thiện việc cung cấp thông tin liên quan đến sự an toàn của các nhà máy điện hạt nhân của nước này được xây dựng và vận hành gần biên giới Trung-Việt, bao gồm các tổ máy điện hạt nhân ở Phòng Thành Cảng, Xương Giang và Trường Giang, trong đó nhà máy ở Phòng Thành Cảng chỉ cách biên giới giữa hai nước 50 km. Tuy nhiên, khi các nhà máy điện hạt nhân nổi  được Trung Quốc triển khai đến khu vực biển vốn cũng được tuyên bố chủ quyền bởi các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam hay Philippines, thì việc ký kết các thỏa thuận song phương hoặc đa phương tương tự là không thể bởi các quốc gia này sẽ không hy sinh các khẳng định chủ quyền lãnh thổ của họ chỉ cho một thoả thuận về an toàn hạt nhân.

 

Tuy nhiên, nếu không có bất kỳ kênh trao đổi thông tin nào, các nước Đông Nam Á sẽ không thể đảm bảo Trung Quốc sẽ giữ được các tiêu chuẩn an toàn cao nhất cho các nhà máy điện hạt nhân nổi, trong khi đó, chính Trung Quốc sẽ mất đi áp lực cần thiết từ các đánh giá đồng cấp của các quốc gia khác trong khu vực vốn là một phần quan trọng giúp tăng cường chất lượng quản lý an toàn hạt nhân.

 

Trong bối cảnh nguy cơ tiềm tàng về mặt an toàn đối với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc trong tương lai và các vấn đề liên quan khác như trách nhiệm dân sự trong trường hợp xảy ra tai nạn, hoặc rủi ro an ninh từ cướp biển hoặc các nhóm khủng bố trong khu vực, kịch bản tốt nhất cho khu vực sẽ là Trung Quốc thay đổi nguồn cung cấp điện cho các đảo mà quốc gia này đang kiểm soát trên biển Đông, hoặc ít nhất là trì hoãn việc triển khai các nhà máy điện hạt nhân nổi. Nhưng theo các nguồn tin của Trung Quốc thì dự án vận hành thử nghiệm đầu tiên của lò phản ứng hạt nhân nổi của nước này có thể sẽ được triển khai ở Bột Hải phía bắc Trung Quốc “trước năm 2020.” Sự phát triển nhanh chóng của chương trình hạt nhân nổi Trung Quốc khiến cho kịch bản tốt nhất kể trên không thể xảy ra.

 

Điều đó có nghĩa là các nước Đông Nam Á – với sự hỗ trợ của ASEAN và Mạng lưới các cơ quan quản lý về năng lượng nguyên tử (ASEANTOM), các tổ chức và diễn đàn khu vực như Hội đồng hợp tác an ninh khu vực Châu Á Thái Bình Dương (CSCAP) và các đối tác quốc tế khác quan tâm đến khu vực như Hoa Kỳ, Nhật Bản hoặc Hàn Quốc – nên sớm tìm ra ít nhất một kênh đối thoại với Trung Quốc để trao đổi thông tin về sự an toàn của cơ sở hạt nhân trên biển và quy định vận hành nó, mà không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia trên các hòn đảo ở Biển Đông. Như đã thảo luận ở trên, sẽ không có giải pháp dễ dàng đối với các vấn đề an toàn của các nhà máy điện hạt nhân nổi, nhưng việc tìm ra giải pháp như vậy sẽ mang tính sống còn cho một Biển Đông trong tương lai không có rủi ro an toàn hạt nhân.

 

Tác giả: TS. Nguyễn Việt Phương – Nghiên cứu viên sau tiến sĩ tại Khoa Công nghệ hạt nhân và lượng tử, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST).

(Người dịch: Phạm Thị Thu Trang, Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học)